28

08/2013

Tìm về nguồn gốc cây chè (trà) trên thế giới

Ý nghĩa về nguồn nguyên sản cây chè thế giới.

Cây chè đã được cư dân Bách Việt vùng lúa nước Đông Nam Á phát hiện đầu tiên làm dược liệu từ thời vua Thần Nông. Sau đó đã lan truyền ra khắp thế giới bằng 3 con đường tơ lụa – trà phía bắc Trung Hoa, con đường trà mã đạo phía nam Trung Hoa và con đường gia vị trên biển Đông Nam Á và Nam Á sang châu Âu và châu Mỹ. Đến nay đã có 50 % dân số thế giới uống trà. Trà là thứ nước giải khát lý tưởng được mọi thời đại, mọi quốc gia, mọi nền văn hóa, mọi dân tộc tin dùng vì có giá trị dinh dưỡng – dược liệu – văn hóa phi vật thể cao. Cây chè đã được nhà bác học thực vật học Thụy Điển Carl Von Linneous định tên khoa học là Camélia sinensis. Linneous từ năm 1753. Nhưng có một vấn đề khoa học về vùng nguyên sản cây chè thì chưa có ý kiến thống nhất của các nhà khoa học văn hóa thế giới. Vùng nguyên sản cây chè trên thế giới vẫn chưa đến hồi kết thúc sau hơn 200 năm tranh luận, đây là một vấn đề thời sự bí hiểm, mới mẻ, hào hứng vì có giá trị lịch sử – khoa học – văn hóa, đã được nêu lên trong tạp chí Xưa – Nay, số 127, tháng 12 năm 2002.

5 thuyết về nguồn gốc cây chè thế giới của các nhà khoa học thế giới (1753 – 1976)

1. Thuyết Trung Quốc

Năm 1753, Carl Von Linnaeus, nhà thực vật học Thuỵ Điển đã thu thập và phân loại các tiêu bản mẫu chè giống ở Trung Quốc và lần đầu tiên xác định tên khoa học cây chè là Thea (Camelia) sinensis, phân thành 2 thứ (variétas) chè: Thea bohea (chè đen) và Thea viridis (chè xanh). Từ đó đã xác nhận Trung Quốc là vùng nguyên sản cây chè của thế giới.

Thực ra theo khoa học hiện đại phân loại 2 thứ chè này không chính xác, vì chè xanh và đen đều có thể chế biến từ cùng một nguyên liệu chỉ khác nhau về công nghệ chế biến.

Năm 1961, Giáo sư Trang Vãn Phương của Trung Quốc đã khẳng định “ Không còn nghi ngờ gì về Trung Quốc là nguyên sản của cây chè. Hơn nữa, trung tâm của vùng nguyên sản cây chè, dựa vào sự phân bố của cây chè hoang dại, hiện trạng gieo trồng và sử dụng, có thể quyết đoán là phía Tây Nam của tỉnh Vân Nam ”.

Năm 2002, theo Trần Hồng Vỹ – Trà diệp, số 1, 2002  đã giới thiệu các cây chè cổ thụ tại Trung Quốc đã được phát hiện ở Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên, Quảng Đông, Quảng Tây, Phúc Kiến, Hồ Nam. Ở vùng dân tộc Xípxoongpảnnả, tại Mạnh Hải (Vân Nam) có một cây chè cổ thụ trong rừng sâu, ở độ cao 1.500 m, cao 34 m, đường kính thân 1,21 m, tuổi ước 1.700 năm.

2. Thuyết Ấn Độ

Năm 1823, Robert Bruce, một học giả người Anh, đã phát hiện một số cây chè hoang dã trong dãy núi Sadiya, ở vùng Assam (Ấn Độ) cao tới 17 – 20 m, thuộc loài cây thân gỗ lớn (đại kiều mộc), khác hẳn cây chè thân bụi (quán mộc) của Linnaeus đã thu thập ở Trung Quốc. Sau đó các nhà học giả Anh như Samuel Baildon (1878), John H.Blake (1903), E.A. Brown và Ibbetson (1912) đưa ra thuyết Ấn Độ là vùng nguyên sản cây chè trên thế giới, vì trong kho tài liệu cổ Trung Quốc không ghi nhận gì về các cây chè cổ thụ. Trong đất nước Trung Quốc chưa từng tìm thấy những cây chè cổ thụ lớn như ở Ấn Độ. Từ đó các học giả Anh kết luận giống chè Trung Quốc cũng như Nhật Bản hiện trồng là nhập từ Ấn Độ.

3. Thuyết dị nguyên

Năm 1918, Cohen Stuart (Java), một nhà phân loại thực vật Hà Lan, đã khảo sát và thu thập mẫu tiêu bản chè tại Vân Nam, Bắc Việt Nam và Bắc Myanmar. Kết quả đã tìm thấy những cây chè thân gỗ lớn ở khu vực miền núi phía Nam và phía Tây Vân Nam. Dựa vào những kết quả điều tra trên, Cohen Stuart đã đưa ra thuyết hai nguồn gốc của cây chè (nhị nguyên thuyết): cây chè lá to (đại diệp chủng) có nguồn gốc ở phía Đông cao nguyên Tây Tạng, cây chè lá nhỏ (tiểu diệp chủng) có nguồn gốc ở phía Đông và Đông Nam Trung Quốc và 2 loài chè này thuộc 2 loại hình khác nhau.

4. Thuyết chiết trung

Năm 1951, Đào Thừa Trân (Trung Quốc), tổng kết các ý kiến của các nhà khoa học thành 4 thuyết: thuyết Trung Quốc, thuyết Ấn Độ, thuyết nhị nguyên và thuyết chiết trung. Thuyết chiết trung là một thuyết trung dung, xếp giữa hai thuyết Trung Quốc và Ấn Độ, được nhiều nhà thực vật học tán thành. Thuyết này cho rằng, cái nôi tự nhiên cây chè là ở khu vực gió mùa Đông Nam Á, vì ở Lào, Myanmar, Vân Nam và Bắc Việt Nam đều phát hiện những cây chè hoang dại. Các điều kiện đất đai, khí hậu, lượng mưa của các khu vực này đều rất thích hợp với sinh trưởng của cây chè, hợp thành một vườn chè nguyên thuỷ. Hơn nữa, các cây chè hoang dại đều mọc nhiều trên bờ của các con sông lớn như Lan Thương, Kim Sa Giang (tên gọi sông Mê Kông ở cao nguyên Tây Tạng), Phú Long Giang, Salouen, Irravađi, Bramapoutrơ… Các con sông lớn này đều bắt nguồn từ dãy núi phía Nam cao nguyên Tây Tạng, cho nên vùng nguyên sản cây chè là vùng núi ở cao nguyên Tây Tạng. Kết luận của tác giả là: “…Vì thế nơi nguyên sản của cây chè là tỉnh Vân Nam của nước Trung Hoa. Cây chè di thực về phía Đông qua tỉnh Tứ Xuyên, bị ảnh hưởng của khí hậu, nên biến thành giống chè lá nhỏ; di thực về phía Nam và Tây Nam là Ấn Độ, Myanmar, Annam (Việt Nam) biến thành giống lá to ”.

Qua những tư liệu trên cho thấy, các nhà khoa học đều xác nhận Việt Nam nằm trong vùng nguyên sản thế giới nhưng cần chú ý hai ý kiến sau đây:

– Năm 1933, J.J.B.Deuss, người Hà Lan, nguyên giám đốc Viện Nghiên cứu Chè Buitenzorg ở Java (Indonesia), cố vấn các công ty chè Đông Dương thời Pháp, sau khi đi khảo sát vùng chè cổ Tham Vè tại xã Cao Bồ (Vị Xuyên – Hà Giang) đã viết “… Điểm cần chú ý là ở những nơi mà con người tìm thấy cây chè, bao giờ cũng ở bên bờ các con sông lớn, như sông Dương Tử, sông Sa Giang ở Trung Quốc, sông Hồng ở Vân Nam và Bắc Kỳ (Việt Nam), sông Mê Kông ở Vân Nam, Thái Lan và Đông Dương, sông Salouen và Irrawađi ở Vân Nam và Myanmar, sông Bramapoutrơ ở Assam. Tất cả những con sông đó đều bắt nguồn từ dãy núi phía Đông cao nguyên Tây Tạng. Cho nên nguồn gốc cây chè là từ dãy núi này phân tán đi (thuyết của De Candolle, một nhà thực vật học)

– Cohen Stuart, ngược lại cho rằng giống chè Trung Quốc khác hẳn giống chè Assam và nhấn mạnh con người có ảnh hưởng đến sự phân bố của cây chè. Giả dụ dãy núi phía Đông cao nguyên Tây Tạng là trung tâm phát tán cây chè. Con người sống ở đây di cư dọc theo hướng các dòng sông và đem hạt giống chè theo họ. Dẫn chứng là ngày nay đã phát hiện những cây chè dọc những con đường vận tải lớn, thồ bằng súc vật giữa Ấn Độ và Trung Quốc, theo đà giao thông vận tải phát triển. “… chỉ có Đông Dương thuộc Pháp có lẽ còn đang dấu nhiều bí mật về nguồn gốc cây chè ở miền Bắc và rất mong công việc mới bắt đầu của ông Du Pasquier có thể tiếp tục”

5. Thuyết Việt Nam

Năm 1976, Djemukhatze, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, sau những nghiên cứu về sự tiến hoá của cây chè, bằng cách phân tích thành phần catêchin trong chè mọc hoang dại ở các vùng chè Tứ Xuyên, Vân Nam Trung Quốc, Ấn Độ và các vùng chè cổ Việt Nam (Suối Giàng, Nghĩa Lộ, Lạng Sơn, Nghệ An…), đã kết luận: “… cây chè cổ Việt Nam, tổng hợp các catêchin đơn giản nhiều hơn cây chè Vân Nam; ở cây chè Vân Nam chất catêchin phức tạp nhiều hơn ở cây chè Việt Nam, như vậy là một loại hình tiến hoá sau cây chè Việt Nam”, từ đó tác giả đề xuất sơ đồ tiến hoá cây chè như sau: Camellia  Chè Việt Nam  Chè Vân Nam lá to  Chè Trung Quốc  Chè Assam (Ấn Độ)

Thuyết mới: Vùng khí hậu gió mùa Đông Nam Á – Đỗ Ngọc Quỹ, 2008

Nhưng cần phân tích thêm hai điểm sau đây để phán đoán vùng nguyên sản cây chè:

1. Vùng văn hoá là một khái niệm mờ, trùm lên ranh giới quốc gia hành chính cụ thể, một sản phẩm của con người tạo ra, biến động theo kết quả của di dân và chiến tranh chiếm hữu đất đai. Một dân tộc có thể sống ở hai ba nước khác nhau, nhất là vùng biên giới quốc gia miền núi phía Bắc Việt Nam. Vùng nguyên sản của cây chè gắn liền với vùng sinh thái và vùng văn hoá, cho nên khẳng định cây chè nguồn gốc ở nước này nước nọ, mà không xem xét đến chủ thể con người, vùng văn hoá và những biến động về ranh giới quốc gia, là không có căn cứ khoa học thuyết phục.

2. Một điểm mới chưa thấy giới thiệu trong các tư liệu xuất bản ngày nay là trong Bản đồ phân bố các vùng chè Đời Nhà Đường (618 – 907), in trong Cuốn Trung Quốc – Quê hương cây chè (1994), có vẽ 18 đạo (một đơn vị hành chính) trồng chè ở Trung Quốc. Trong cuốn Trà Kinh, Lục Vũ (765) có ghi chép “Về chính trị địa lý, Trung Quốc phân thành đạo, châu, huyện. Đạo tương đương với tỉnh ngày nay, biến động mạnh trong lịch sử; còn châu và huyện tương đương một vùng, vẫn dùng đến ngày nay “. Trung Quốc thời đó có 8 đạo sản xuất chè. Lĩnh Nam đạo ở phía Nam núi Ngũ Lĩnh – Trung Quốc là đạo thứ 8 có chè. Trong bản đồ này vào thời kỳ Bắc thuộc, vùng Bắc bộ – Bắc Trung bộ của Việt Nam ngày nay, nằm trong ranh giới phía Nam Lĩnh Nam đạo, cùng với 3 tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến.

Từ những tư liệu trong và ngoài nước của các nhà khoa học tự nhiên, sử học và xã hội học kể trên đã công bố đến nay, có thể rút ra nhận thức mới về nguồn gốc cây chè sau đây: Cây chè có nguồn gốc ở vùng khí hậu gió mùa Đông Nam Á, bao gồm vùng Tây Nam Trung Quốc, Bắc Myanmar, Bắc Lào và Bắc Việt Nam hiện nay. Cây chè được cư dân Bách Việt phương Nam, thuộc nền văn hoá lúa nước phát hiện đầu tiên trên thế giới làm dược thảo; rồi lan truyền lên phương Bắc của dân tộc Hán có nền văn hoá nông nghiệp cạn và du mục Hoàng Hà. Từ đó phát triển mạnh mẽ về công nghệ chế biến thành nước trà, một thứ nước uống giải khát phổ cập ở Trung Hoa, rồi truyền bá ra khắp năm châu trên thế giới ngày nay đã có trên 4000 năm lịch sử.®

(Đỗ Ngọc Quỹ, Việt Nam – 12/2009)